Với khả năng điều chỉnh hướng đo linh hoạt, PH1 Renishaw giúp người vận hành thực hiện các phép chạm ở nhiều góc độ khác nhau. Việc sử dụng PH1 Renishaw giúp tối ưu hóa chi phí đầu tư thiết bị đo lường cho các xưởng cơ khí nhỏ. Hệ thống PH1 Renishaw tương thích hoàn hảo với các dòng cảm biến đo chạm phổ biến như M2. Sự hiện diện của PH1 Renishaw đảm bảo các phép đo tọa độ cơ bản luôn đạt độ chính xác cần thiết.
Đầu đo MH20i Renishaw có khả năng xoay theo hai trục với các vị trí được định vị sẵn (indexing) cực kỳ chuẩn xác. Mỗi bước xoay của MH20i Renishaw được khóa chắc chắn, đảm bảo độ lặp lại vị trí tuyệt vời cho mỗi lần đo. Thiết kế của MH20i Renishaw rất nhỏ gọn, phù hợp với mọi dòng máy đo tọa độ từ nhỏ đến lớn.
Trong lĩnh vực đo lường quét biên dạng siêu chính xác, SP80 Renishaw là đầu đo quét gắn cố định có hiệu suất vô đối. Sử dụng công nghệ cảm biến quang học, SP80 Renishaw cho phép đo các chi tiết có kích thước lớn với kim đo siêu dài mà không giảm độ chính xác. Việc tích hợp SP80 Renishaw giúp thu thập hàng nghìn điểm dữ liệu mỗi giây để phân tích hình học chi tiết.
SP600 Renishaw là dòng đầu đo quét analog mạnh mẽ được thiết kế để hoạt động ổn định trên nhiều loại máy CMM. Với khả năng đo quét tốc độ cao và độ lặp lại cực tốt, SP600 Renishaw giúp thu thập dữ liệu biên dạng chi tiết một cách nhanh chóng. Việc sử dụng SP600 Renishaw giúp nâng cao đáng kể độ tin cậy của quy trình kiểm soát chất lượng tại nhà máy.
Cảm biến đầu đo Renishaw module TP20 – EM2 STD- 75 mm extension Đầu dò kích hoạt cảm ứng thay đổi mô-đun nhỏ gọn, cho phép sử dụng nhiều cấu hình và tiện ích mở rộng bút cảm ứng để truy cập các tính năng trên các bộ phận phức tạp TP20 với MCR20 và PI 200-3 TP20 là hệ thống đầu dò cảm ứng động học 5 chiều hoặc 6 chiều nhỏ gọn. Thiết kế hai mảnh, bao gồm thân đầu dò và (các) mô-đun bút cảm ứng có thể tháo rời, được kết nối bằng khớp nối động học từ tính có độ lặp lại cao.
Về nguyên tắc, kim đo là “công cụ” của máy đo tọa độ (CMM), cung cấp mối quan hệ tương tự như các công cụ tiện có với máy tiện và các công cụ phay và doa có với máy phay. Khi đo bằng đầu cảm biến, máy sử dụng kim để lấy các điểm dữ liệu trên bề mặt phôi. Mỗi lần chạm sẽ tạo ra một điểm được xác định bằng cách sử dụng các giá trị tọa độ trong X, Y và Z. Sau đó, tính năng, kích thước, hình thức và vị trí có thể được tính toán từ các điểm này.
Về nguyên tắc, kim đo là “công cụ” của máy đo tọa độ (CMM), cung cấp mối quan hệ tương tự như các công cụ tiện có với máy tiện và các công cụ phay và doa có với máy phay. Khi đo bằng đầu cảm biến, máy sử dụng kim để lấy các điểm dữ liệu trên bề mặt phôi. Mỗi lần chạm sẽ tạo ra một điểm được xác định bằng cách sử dụng các giá trị tọa độ trong X, Y và Z. Sau đó, tính năng, kích thước, hình thức và vị trí có thể được tính toán từ các điểm này.
Về nguyên tắc, kim đo là “công cụ” của máy đo tọa độ (CMM), cung cấp mối quan hệ tương tự như các công cụ tiện có với máy tiện và các công cụ phay và doa có với máy phay. Khi đo bằng đầu cảm biến, máy sử dụng kim để lấy các điểm dữ liệu trên bề mặt phôi. Mỗi lần chạm sẽ tạo ra một điểm được xác định bằng cách sử dụng các giá trị tọa độ trong X, Y và Z. Sau đó, tính năng, kích thước, hình thức và vị trí có thể được tính toán từ các điểm này.
Về nguyên tắc, kim đo là “công cụ” của máy đo tọa độ (CMM), cung cấp mối quan hệ tương tự như các công cụ tiện có với máy tiện và các công cụ phay và doa có với máy phay. Khi đo bằng đầu cảm biến, máy sử dụng kim để lấy các điểm dữ liệu trên bề mặt phôi. Mỗi lần chạm sẽ tạo ra một điểm được xác định bằng cách sử dụng các giá trị tọa độ trong X, Y và Z. Sau đó, tính năng, kích thước, hình thức và vị trí có thể được tính toán từ các điểm này.
Về nguyên tắc, kim đo là “công cụ” của máy đo tọa độ (CMM), cung cấp mối quan hệ tương tự như các công cụ tiện có với máy tiện và các công cụ phay và doa có với máy phay. Khi đo bằng đầu cảm biến, máy sử dụng kim để lấy các điểm dữ liệu trên bề mặt phôi. Mỗi lần chạm sẽ tạo ra một điểm được xác định bằng cách sử dụng các giá trị tọa độ trong X, Y và Z. Sau đó, tính năng, kích thước, hình thức và vị trí có thể được tính toán từ các điểm này.
Về nguyên tắc, kim đo là “công cụ” của máy đo tọa độ (CMM), cung cấp mối quan hệ tương tự như các công cụ tiện có với máy tiện và các công cụ phay và doa có với máy phay. Khi đo bằng đầu cảm biến, máy sử dụng kim để lấy các điểm dữ liệu trên bề mặt phôi. Mỗi lần chạm sẽ tạo ra một điểm được xác định bằng cách sử dụng các giá trị tọa độ trong X, Y và Z. Sau đó, tính năng, kích thước, hình thức và vị trí có thể được tính toán từ các điểm này.
Về nguyên tắc, kim đo là “công cụ” của máy đo tọa độ (CMM), cung cấp mối quan hệ tương tự như các công cụ tiện có với máy tiện và các công cụ phay và doa có với máy phay. Khi đo bằng đầu cảm biến, máy sử dụng kim để lấy các điểm dữ liệu trên bề mặt phôi. Mỗi lần chạm sẽ tạo ra một điểm được xác định bằng cách sử dụng các giá trị tọa độ trong X, Y và Z. Sau đó, tính năng, kích thước, hình thức và vị trí có thể được tính toán từ các điểm này.
(84) 896 555 247